Header Ads

Untitled-1
  • Tin Mới

    Kỹ thuật nuôi dưỡng gia cầm con

    Gia cầm con có tốc độ sinh trưởng nhanh, cường độ trao đổi chất mạnh nhưng dung tích đường tiêu hoá nhỏ; khả năng tiêu hoá còn thấp nên cần có chế độ nuôi dưỡng hợp lý. Khối lượng gia cầm con nở ra khoảng 68 - 70% khối lượng trứng đưa vào ấp.
    1. Đặc điểm của gia cầm con
    Khối lượng gia cầm tăng gấp 2 - 3 hoặc 5 lần trước 6 tuần tuổi và tăng trưởng kéo dài đến khoảng 10 tuần tuổi, sau đó tốc độ sinh trưởng giảm đi rõ rệt. Cùng với sự tăng trọng là sự hoàn thiện của bộ lông. ở 4 - 5 tuần tuổi bộ lông tơ của gia cầm con được thay bằng bộ lông vũ có khả năng giữ ấm, còn trước 5 tuần tuổi bộ lông chưa hoàn thiện, khả năng điều tiết thân nhiệt kém nên gia cầm con dễ bị nhiễm lạnh, đòi hỏi nhiệt độ chuồng nuôi phải cao (35oC). Giai đoạn 13 - 14 tuần tuổi gia cầm thay bằng bộ lông hoàn thiện hơn và giữ cho đến trước khi thành thục về tính. Sau khi thành thục về tính, gia cầm có bộ lông của gia cầm trưởng thành. Cùng với sự tăng trưởng kích thước cơ thể, tiêu thụ thức ăn của gia cầm cũng tăng lên nhưng hiệu quả sử dụng thức ăn giảm xuống, trước 6 tuần tuổi gà hướng trứng tiêu thụ khoảng 1 kg thức ăn hỗn hợp, ở gà thịt (Broiler) là 2 - 2,3 kg. Tổng thức ăn tiêu thụ cho gà đến thời điểm đẻ trứng là khoảng 8 - 12 kg.
    Các cơ quan của cơ thể gia cầm phát triển với tốc độ khác nhau qua các giai đoạn sinh trưởng phát dục của nó. Các cơ quan của cơ thể có thể phân làm 3 nhóm liên quan đến giai đoạn phát triển. Các cơ quan thành thục sớm là đầu, tim, gan, máu, ống tiêu hoá, các cơ quan phát triển ở mức trung bình là chân, phổi, cánh, lông, thân. Trong đó các cơ quan: buồng trứng, ống dẫn trứng, lách, bài tiết và mô mỡ của gia cầm thuộc nhóm thành thục muộn.
    2. Công tác chuẩn bị nhận gà con một ngày tuổi:
    Trước khi đưa gà về nuôi cần chuẩn bị chu đáo chuồng trại, các thiết bị dụng cụ chăn nuôi và đảm bảo khử trùng sạch sẽ.
    * Khử trùng chuồng trại: Chuồng trại được quét sạch bụi bẩn, mạng nhện trên trần, lưới, sàn nhà. Khử trùng nền chuồng bằng cách phun dung dịch formol 2%, liều lượng 0,5 lít trên 1m2 nền chuồng hoặc quét một lớp nước vôi đặc lên trên nền chuồng (nền ximăng hoặc lát ngạch); để khô trước khi cho vào lớp độn chuồng.
    Chuẩn bị rèm che: Rèm che quây quanh chuồng có thể làm bằng cót, vải bạt nhưng phải đảm bảo kín, linh hoạt khi mở ra hoặc đóng vào. Rèm che treo cách trần 30 - 40cm đảm bảo thông thoáng và phủ sát nền chuồng để tránh gió lùa.
    Chuẩn bị nguồn sưởi: Nguồn sưởi có thể là lò sưởi điện, bếp than, củi, trấu, bóng đèn điện đảm bảo cung cấp nhiệt trong quây gà lên được 36 - 37oC. Phải được vận hành thử để kiểm tra trước khi đưa gà vào chuồng.
    Quây gà: Quây gà được làm băng cót, bìa cứng, hộp gỗ quây có đường kính 2,5m, chiều cao 0,5m dùng cho 300 gà 1 ngày tuổi. Quây có thể nới rộng, để có thể mở ra khi tuổi gà lớn lên.
    Máng ăn, máng uống: Máng ăn, máng uống cho gia cầm con có thể hình trụ, hình ống. Cần tính toán đủ cho đàn gà và phân bố đều trong quây gà. Khay làm máng ăn, máng uống cỡ 70 x 70cm cho 75 - 100 gà. Một số loại máng ăn, máng uống hiên đang sử dụng trong chăn nuôi gia cầm con.
    Nguyên liệu độn chuồng: Nguyên liệu làm lớp độn chuồng cho chăn nuôi gia cầm con có nhiều loại. Khi chọn nguyên liệu làm độn chuồng cần chú ý là các vật liệu không nát vụn, có khả năng giữ ẩm tốt, không tạo thành nhiều bụi, không bị nấm mốc. Thông thường hay dùng phôi bào, mùn cưa, trấu... phơi khô làm độn chuồng. Lớp độn chuồng lúc đầu dày 8 - 10cm, sau đó bổ sung hoặc thay mới.
    Thức ăn, nước uống: Chuẩn bị thức ăn theo yêu cầu độ tuổi của gà, đảm bảo chất lượng thức ăn và không ẩm mốc. Nước uống phải từ nguồn nước sạch và cung cấp đủ cho cả giai đoạn nuôi.
    Tất cả dụng cụ, vật liệu đều được khử trùng sạch sẽ trước khi đưa vào chuồng nuôi. Chú ý kiểm tra lưới, nền, trần để phòng chuột, thú dữ có thể tấn công đàn gia cầm.
    3. Chọn gà 1 ngày tuổi
    Gà nở ra khỏi máy ấp cần được chọn lọc kỹ. Chọn gà có khối lượng trung bình của giống, không quá to, không quá nhỏ. Gà lông khô, bồng, min, mắt sáng tinh nhanh, bụng to mềm, không hở rốn, khèo chân, đứng vững trên hai chân. Loại bỏ gà quẹo mỏ, lông xoăn, chân yếu, khòe chân, rốn không kín có dính máu, có các dị tật Nhưng gà con nở đúng ngày quy định (không quá sớm, không quá muộn) là những gà tốt. Cần tách riêng trống mái ngay khi gà 1 ngày tuổi (nếu có yêu cầu nuôi riêng).
    4. Vận chuyển gà con
    Gia cầm con được vận chuyển tốt nhất bằng các xe chuyên dụng, cũng có thể vận chuyển bằng xe môtô nhưng cần chú ý tránh xóc lắc mạnh, tránh gió lùa và gà xô vào nhau chết vì ngạt. Gà con nở ra được đựng trong các hộp cỡ 450 x 450 x 125mm bằng bìa cotton hoặc hộp nhựa. Hộp được chia làm 4 ô nhỏ, mỗi ô 20 - 25 gà con 1 ngày tuổi, xung quanh hộp có những lỗ thông hơi tránh ngạt. Nếu vận chuyển đi xa, khi gà về cần mở hộp cho thông thoáng, cho uống nước có pha vitamin C, B, glucose trước khi thả gà vào quây.
    5. Kỹ thuật nuôi dưỡng gà con
    * Nhiệt độ: Nhiệt độ là yếu tố đầu tiên và cũng là yêu tố quan trọng nhất trong chăn nuôi gia cầm con. Tuần đầu nhiệt độ trong quây gà là 33 - 35oC, cứ mỗi tuần sau đó giảm đi 2 - 3oC và giữ ổn định ở 20 - 22oC lúc 8 tuần tuổi. Thực tế tuỳ thuộc vào sức khoẻ đàn gà và nhiệt độ môi trường mà sử dụng nguồn sưởi, mùa hè có thể chỉ sử dụng 3 - 4 tuần đầu. Thường xuyên theo dõi quan sát đàn gà trong quây để điều chỉnh nhiệt độ. Gà con phân tán xa nguồn sưởi, ép sát vào mép quây là nhiệt độ cao. Gà tập trung thành cụm sát nguồn sưởi, chen lấn nhau là nhiệt độ quá thấp. Gà phân bố đều trong quây, ăn uống tốt, hoạt động linh hoạt là nhiệt độ thích hợp. Gà nằm dạt về một phía của quây, chen lấn, kêu nhiều cần chú ý kiểm tra có gió lùa.
    * Ẩm độ: ẩm độ trong chuồng nuôi gà con thích hợp là 75 - 80%. Tránh ẩm thấp do nước uống đổ ra nền chuồng.
    * Mật độ nuôi: Mật độ nuôi là số gà/m2 nền chuồng. Trong những ngày đầu một quây gà dùng cho 500 gà con thương phẩm hoặc 300 gà giống. Sau 4 - 5 ngày nới rộng dần quây, sau 10 ngày có thể bỏ quây cho gà tự do trên nền chuồng (nếu gà khoẻ, sinh trưởng tốt và thời tiết tốt). Vẫn giữ quây nếu thời tiết xấu. Sau khi bỏ quây mật độ gà giống 8 con/m2, gà thịt thương phẩm 10 - 12 con/m2, gà trứng thương phẩm 18 - 22 con/m2. Mật độ có thể thay đổi theo mùa nóng - lạnh.
    * Sử dụng rèm che: Sử dụng rèm che tùy điều kiện thời tiết và độ tuổi gà mà sử dụng rèm che cho thích hợp.
    Trạng thái rèm che                                                                            Mùa hè                    Mùa đông
    Che kín chuồng                                                                                  tuần 1                      tuần 1 & 2
    Che kín bên có gió ban ngày, ban đêm che kín hoàn toàn                tuần 2                      tuần 3
    Cả ngày đêm che kín bên có gió thổi                                                 tuần 3                      tuần 4
    Tuỳ thời tiết có thể che hoặc không che                                   Từ tuần 4 - 5 trở đi
    * Ánh sáng, thông thoáng: Tuần đầu gà con cần chiếu sáng 24/24 giờ. Sử dụng bóng đèn công suất 75 - 100W, định mức 3 - 4W/m2 nền chuồng. Thời gian chiếu sáng các tuần tiếp theo giảm 2 - 4h/tuần, và giữ ở 18h/tuần ở tuần thứ 8. Màu sắc ánh sáng tốt nhất ở gà con là màu đỏ hoặc ánh sáng trắng, ánh sáng yêu cầu toả đều trong chuồng nuôi. Cần thông thoáng tốt chuồng nuôi để đủ không khí sạch cho gà. Gà con cần không khí sạch: 0,9 - 1,0 m3 vào mùa đông và 5 - 8 m3 vào mùa hè, có thể cao hơn nữa ở chuồng nuôi gà giống.
    * Thức ăn và nuôi dưỡng gà con: Gà con 1-8 tuần tuổi có cường độ sinh trưởng nhanh, nhưng không đồng đều. Giai đoạn 5 - 6 ngày tuổi đầu sinh trưởng châm, sau đó nhanh dần và đạt đến 3% so với khối lượng cơ thể. Khối lượng lúc 8 - 10 tuần tuổi cần đạt 600 - 800g/con gà hướng trứng và 800 - 1000g/con ở gà giống nặng cân trung bình. Để đạt được khối lượng này, thức ăn hỗn hợp cho gà con cần có:hàm lượng dinh dưỡng trong 1kg thức ăn như sau: Năng lượng trao đổi: 2750 - 2950 Kcal, Protêin thô: 18 - 20%, Canxi: 1,0 - 1,3%, Phốt pho: 0,75 - 0,80%.
    Có thể chia ra các giai đoạn tuổi 1 - 3, 4 - 8 hoặc 1 - 3, 4 - 7; 7 - 10 tuần tuổi và điều chỉnh thức ăn theo từng giai đoạn. Thức ăn sử dụng cho gà con, trong 1 kg thức ăn hỗn hợp cần có 3000 - 3200 Kcal năng lượng trao đổi protein thô 19 - 21% ở 1 - 3 tuần tuổi đầu, sau đó giảm xuống 2800 - 3000 Kcal và 17 - 19% tương ứng ở các tuần tiếp theo.
    Thức ăn cho gà hậu bị: Sau 10 tuần tuổi tốc độ sinh trưởng của gà giảm 1 - 3% khối lượng cơ thể. Sự thay đổi về tăng trọng cần phải thay đổi thức ăn. Prôtêin thô giảm còn 15 - 16%, trong một số trường hợp giảm còn 13%. Giai đoạn này, thức ăn hỗn hợp có: Năng lượng trao đổi: 2750 - 3000 Kcal, Protêin thô: 15 - 16%, Canxi: 1,0 - 1,3%, Phốt pho: 0,70 - 0,80%.
    * Máng ăn, máng uống: Lượng cho ăn tự do bằng máng ăn tự động là tốt nhất. Cần chứa đủ vitamin, khoáng trong thức ăn. Từ ngày tuổi thứ 43 - 46 chuyển dần thức ăn từ thức ăn cho gà con qua thức ăn cho gà dò theo tỉ lệ 75/25, 50/50, 25/75 và 100. Nước uống sạch và đủ cho gà uống tự do. Máng ăn cần 8 - 11 cm/con, máng uống cần 2 cm/con, ở gà broiler tương ứng là 4 và 1,5 cm/con.* Chủng ngừa vaccine: Trong giai đoạn gà con cần cho uống hoặc tiêm phòng các loại vaccine phòng bệnh đậu gà, Gumboro, Niucatxon, tụ huyết trùngtheo hướng dẫn của thú y (quy trình phòng bệnh cho từng đối tượng gia cầm nuôi).
    Ở vịt, ngan, ngỗng, gà tây con có quá trình nuôi tương tự như chăn nuôi gà con. Các yếu tố kĩ thuật có điều chỉnh chút ít. Nuôi vịt chăn thả thời vụ có quy trình nuôi vịt riêng.
    Ở vịt: Yêu cầu nhiệt độ 26 - 28oC ở tuần đầu, 22 - 25oC tuần thứ 2, 20 - 22oC tuần thứ 3 và 16 - 19oC ở tuần cuối. Cần cung cấp không khí sạch/1kg khối lượng sống trong 1 giờ là 0,7 - 1m3 trong mùa đông và 4 - 5 m3trong mùa hè. Kiểm tra điều chỉnh lượng khí độc trong chuồng CO2 không quá 0,25% thể tích không khí, NH3không quá 0,01 cm3/lít và H2S không quá 0,005 cm3/lít. Chiếu sáng tuần đầu 24 giờ, tuần thứ 2: 16 - 18 giờ từ tuần 3 trở đi giảm dần xuống còn 10 giờ. Máng ăn 1,5 - 2 cm/con tuần đầu, những tuần sau 2 - 3 cm/con, nuôi vịt giống có thể 10 - 15 cm/con, máng uống tương ứng với tuần tuổi trên là 1,2 - 1,5 cm/con và 1,5 - 2 cm/con và 10 - 15 cm/con.
    Ở ngan: Yêu cầu nhiệt độ 30 - 32oC ở tuần đầu, giữ ổn định nhiệt độ 21 - 24oC tới tuần thứ 4, sau 4 tuần là 15 - 20oC. Các yêu cầu khác tương tự như ở vịt. Máng ăn 2,0 - 2,5 cm/con tuần đầu, những tuần sau 3 - 4 cm/con, nuôi vịt giống có thể 10 - 15cm/con, máng uống tương ứng với tuần tuổi trên là 2,0 - 2,5 cm/con và 2,5 - 3 cm/con và 12 - 16 cm/con.
    Theo sonongnghiepvaptntquangtri.gov.vn

    Không có nhận xét nào

    Post Top Ad

    ad728

    Post Bottom Ad

    ad728